CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SẢN XUẤT, PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP SẠCH TẠI PHƯỜNG HẢI DƯƠNG
Từ vùng sản xuất lúa Chiêm Xuân, rau màu đến các ao nuôi thủy sản ven sông Thái Bình, phường Hải Dương đang hướng tới một phương thức sản xuất mới, trong đó hiệu quả sử dụng đất, chất lượng nông sản và khả năng liên kết với thị trường được đặt lên hàng đầu. Theo Đề án phát triển nông nghiệp sạch gắn với du lịch trải nghiệm giai đoạn 2026–2030, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi sẽ được thực hiện phù hợp với điều kiện tự nhiên, từng bước tạo nền tảng phát triển nông nghiệp sạch và mở rộng cơ hội sinh kế cho người dân.
TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
Vùng đất bãi ngoài đê sông Thái Bình, thuộc địa bàn Nhị Châu trước đây, từ lâu gắn bó với hoạt động trồng trọt và nuôi trồng thủy sản của người dân. Tuy nhiên, đặc thù canh tác phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thủy văn, cùng tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán đã đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất, khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đất đai.Theo Đề án, phường Hải Dương hiện có 79,62 ha diện tích sản xuất nông nghiệp, gồm 33,42 ha cấy lúa, 6,2 ha trồng rau màu và 40 ha nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở rà soát hiện trạng sử dụng đất, điều kiện hạ tầng và khả năng tổ chức sản xuất tại từng khu vực, địa phương định hướng bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển nông nghiệp sạch, hữu cơ, gắn với ứng dụng khoa học công nghệ.
Cụ thể, diện tích trồng lúa một vụ dự kiến thu hẹp còn khoảng 10 ha; phát triển 15 ha rau an toàn được chứng nhận VietGAP trong toàn kỳ Đề án; quy hoạch khoảng 30 ha vùng trồng hoa kết hợp du lịch sinh thái, bao gồm các đầm sen quanh khu vực Chùa Nhị Châu và đất trồng hoa, cây cảnh; đồng thời bố trí 24,62 ha nuôi trồng thủy sản.Việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất không đơn thuần là thay đổi diện tích giữa các loại cây trồng, vật nuôi mà hướng tới lựa chọn những mô hình phù hợp với điều kiện từng vùng đất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo thêm giá trị từ hoạt động nông nghiệp. Các chỉ tiêu trên là định hướng trong giai đoạn 2026–2030, được nghiên cứu triển khai theo lộ trình và các điều kiện pháp lý có liên quan.
PHÁT TRIỂN RAU AN TOÀN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN
Trong định hướng chuyển đổi, phát triển rau an toàn là một trong những nội dung được chú trọng. Đề án đặt mục tiêu hình thành 15 ha sản xuất rau an toàn được chứng nhận VietGAP, trên cơ sở diện tích rau màu hiện có và phương án bố trí lại vùng sản xuất. Hướng phát triển này đặt trọng tâm vào chất lượng nông sản, quy trình canh tác và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, sơ chế, chế biến và bảo quản được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, từng bước tạo ra những sản phẩm có chất lượng và giá trị kinh tế cao hơn. Cùng với đổi mới phương thức canh tác, Đề án chú trọng tăng cường liên kết giữa các hộ sản xuất, hợp tác xã và đơn vị tiêu thụ. Sự kết nối từ cung ứng vật tư, hỗ trợ kỹ thuật đến thu mua sản phẩm sẽ góp phần khắc phục những hạn chế của sản xuất nhỏ lẻ, tạo điều kiện để người dân ổn định đầu ra và từng bước xây dựng uy tín cho nông sản địa phương. Các vùng rau an toàn còn được định hướng kết nối với hoạt động tham quan, tìm hiểu quy trình trồng trọt và trải nghiệm nông nghiệp. Qua đó, giá trị của sản phẩm không chỉ dừng lại ở khâu thu hoạch, tiêu thụ mà còn có thể được mở rộng thông qua những hoạt động dịch vụ phù hợp.MỞ RỘNG VÙNG TRỒNG HOA, CÂY CẢNH GẮN VỚI CẢNH QUAN SINH THÁIBên cạnh rau an toàn, Đề án dự kiến quy hoạch khoảng 30 ha vùng trồng hoa kết hợp phát triển du lịch sinh thái, trong đó có các đầm sen quanh khu vực Chùa Nhị Châu và diện tích trồng hoa, cây cảnh. Đây là hướng chuyển đổi nhằm khai thác những diện tích canh tác phù hợp, đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, đồng thời phát huy lợi thế cảnh quan của vùng đất ven sông Thái Bình. Việc phát triển các loại hoa, cây cảnh, trong đó có cây đào, được nghiên cứu gắn với chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả theo quy định. Không gian trồng hoa, cây cảnh được định hướng kết hợp giữa sản xuất và hoạt động tham quan, giới thiệu sản phẩm. Những khu vực trồng sen quanh Chùa Nhị Châu còn có khả năng kết nối cảnh quan nông nghiệp với các giá trị văn hóa, lịch sử, góp phần tạo nét riêng cho mô hình du lịch sinh thái của địa phương. Khi các vùng sản xuất được tổ chức phù hợp, hoa và cây cảnh không chỉ mang lại giá trị từ sản phẩm thu hoạch mà còn góp phần tạo dựng không gian xanh, mở rộng cơ hội phát triển dịch vụ trải nghiệm và quảng bá hình ảnh vùng đất ven sông.
BỐ TRÍ LẠI VÙNG TRỒNG LÚA VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Đối với vùng trồng lúa, Đề án định hướng thu hẹp diện tích lúa một vụ từ 33,42 ha hiện trạng xuống còn khoảng 10 ha. Những diện tích phù hợp được nghiên cứu chuyển sang trồng rau màu, hoa, cây cảnh, cây dược liệu, cây hằng năm khác hoặc áp dụng mô hình lúa kết hợp thủy sản theo quy định. Đặc thù vùng đất ngoài bãi là chỉ cấy được một vụ lúa Chiêm Xuân; vào những thời điểm nước lớn trong năm, một phần diện tích được kết hợp nuôi thủy sản. Vì vậy, việc lựa chọn mô hình sản xuất cần căn cứ điều kiện thủy văn, khả năng canh tác và đặc điểm của từng khu vực, bảo đảm sử dụng đất hiệu quả, phù hợp với thực tế. Đối với nuôi trồng thủy sản, Đề án dự kiến bố trí 24,62 ha, gắn với định hướng tổ chức lại sản xuất và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đất, mặt nước. Đặc biệt, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không làm ảnh hưởng đến công trình thủy lợi, đê điều, giao thông nội đồng và diện tích đất trồng lúa liền kề. Đồng thời, phải giữ được điều kiện phục hồi trồng lúa khi cần thiết theo quy định. Đây là yêu cầu xuyên suốt nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi vừa đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa tuân thủ quy định về quản lý, sử dụng đất và phù hợp với điều kiện tự nhiên của khu vực ngoài đê sông Thái Bình.
TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT, TẠO NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Để các vùng sản xuất phát huy hiệu quả, Đề án chú trọng vai trò của hợp tác xã trong cung ứng vật tư, hỗ trợ kỹ thuật và kết nối tiêu thụ nông sản; đồng thời khuyến khích các hình thức liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp, đơn vị thu mua. Cùng với đó, việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng mô hình sản xuất và tổ chức tập huấn cho người lao động được quan tâm nhằm giúp người dân từng bước tiếp cận phương thức canh tác mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường. Phát triển nông nghiệp sạch cũng phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đối với khu vực ngoài đê sông Thái Bình, mọi hoạt động chuyển đổi sản xuất và đầu tư hạ tầng phải bảo đảm an toàn đê điều, hành lang thoát lũ, không làm ảnh hưởng đến không gian sinh thái tự nhiên ven sông. Từ những vùng sản xuất hiện có, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo Đề án mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đất đai của phường Hải Dương. Trên nền tảng các vùng sản xuất được tổ chức phù hợp, ứng dụng khoa học kỹ thuật và tăng cường liên kết tiêu thụ, nông nghiệp sạch được kỳ vọng từng bước nâng cao giá trị nông sản, mở rộng sinh kế cho người dân, đồng thời tạo điều kiện kết nối với du lịch trải nghiệm, góp phần phát triển kinh tế địa phương theo hướng xanh, bền vững.